Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán, con chữ khô cong thành dấu hỏi quay về.

– Nhiều bạn quan tâm kết quả Đại hội VHNT tỉnh Quảng Tri khóa V ( nhiệm kỳ 2014-2019) điện đàm hỏi tôi ( Võ Văn Hoa):
– TRẢ LỜI:
+ Tốt đẹp !
+ Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Hội VHNT khóa V, nhiệm kỳ 2014 – 2019 gồm 15 văn nghệ sĩ; ông Nguyễn Hoàn, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông được đại hội tín nhiệm bầu giữ chức vụ Chủ tịch; các ông: Nguyễn Văn Dùng, Hoàng Sĩ Cừ giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, ông Hồ Chư, giữ chức vụ Trưởng ban Kiểm tra, ông Võ Văn Luyến, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật nhiệm kỳ 2014- 2019.

—————————–

BCH Hội VHNT Quảng Trị NK 2014 – 2019 ra mắt trước Đại hội. Đ/c Thái Vĩnh Liệu, UVTV, Phó Bí thư TT Tỉnh ủy tặng hoa cho BCH mới. Ảnh: Trịnh Hoàng Tân

 

 

Hình ảnh

 

VĨNH ĐỊNH*

Như nhánh tóc vắt qua vai
Dòng sông chuốt mượt
Đêm không quá chiêm bao
Yêu thương vỗ xanh trong ký ức

Vội chi sông ơi!
Lửa đèn thắp hồng thao thức
Câu thơ cắn niềm vui
Làm mùa xuân dậy tràn hạnh phúc.

Như nhánh tóc vắt qua vai
Long lanh mắt biếc
Ngày lên
Tuổi sông nguyên đán.

Võ Văn Luyến
* Vĩnh Định: tên của dòng sông quê tôi

 

 

alt

VÕ VĂN LUYẾN

 

 

 

 

   

Quê Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị.

Thạc sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn

Giảng viên chính trường CĐSP Quảng Trị.

Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Phân hội Văn học, Hội VHNT Quảng Trị.

 

 

Tác phẩm

TRẦM HƯƠNG CỦA GIÓ (thơ) – NXB Thuận Hoá, 2003

SỰ TRINH BẠCH CỦA NGỌN NẾN (thơ) – NXB Hội Nhà văn, 2007

SẼ CÓ NGÀY TÔI VỀ (CD thơ phổ nhạc), 2006

SẮP IN

ĐỐI NGỌN ĐÈN KHUYA  (khảo luận và phê bình)

 

Giải thưởng – Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh và giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam về tập thơ “Sự trinh bạch của ngọn nến” năm 2007;
– Giải B (không có giải A) sáng tạo VHNT tỉnh năm 2003.

 

Tự bạch Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán,
Con chữ khô cong thành dấu hỏi quay về.

 

 

Địa chỉ http://vovanluyen.vnweblogs.com/

http://360.yahoo.com/vovanluyendh

 

 

Tác phẩm tự chọn

 

Mời đọc chùm thơ của Võ Văn Luyến

 

 

SỰ TRUNG THỰC

 

Trong bóng tối

Tôi lo sợ sự trung thực bị đánh cắp

Như cành lá vươn gặp đường dây điện

Sự trung thực bị chặt

Như nỗi đắm đuối mùi hương của một loài hoa

Sự trung thực bị ngắt

Như viên sỏi lát đường không quen trả ơn

Sự trung thực bị chà đạp

Như sắc đẹp trốn vào đôi mắt/ hắt ánh nghi ngờ

Đâu là sự trung thực?

Ôi cuộc đời này

Trái tim tôi yêu bằng SỰ TRUNG THỰC.

 

 

BÊN TƯỢNG EM BÉ Ở KHON KAEN

 

Tuổi trăng non

Thả xuống trần gian trong veo đôi mắt

Nắng nhon nhót đầu trần chỏm tóc

Tơ nõn cầm năm tháng vun mùa

*

Ơ người đi người về, lạ chưa

Pattaya bé chưa hề biết đến

Biết làm chi thế giới người lớn

Nhưng người lớn có ngoan không ?

*

Người lớn có ngoan không ?

Sóng hồn nhiên trùng trùng

Vỗ vào tôi thác lũ

Quét chân trời bão giông !

 

 

CON ĐƯỜNG MÂY BAY VÀ CƠN KHÁT

 

Những thiên thần mặt đất, bay

không giới hạn tầm nhìn, giới hạn màu da, giới hạn tuổi tác, giới hạn sắp đặt

câu thánh kinh uyên nguyên, rơi

*

Sợi dây làm sao buộc được trái tim ơi !

không lộ tình yêu thênh thang đón gió

giọt sương ảo huyền chân mây bỏ ngỏ

chín mươi chín con sông mải miết bên trời.

*

Rũ chiêm bao tìm mỏng mảnh xa xôi và lạy

A di đà… con không không không nhớ nổi

con chép bỏ vũ môn quẫy sóng Chao pay za không muốn hoá rồng

con khủng long từ bi nhìn chi mà hoá đá

vàng dát Thích ca vàng thành vô giá

tôi nghe tiếng vọng từ trên cao câu sắc không

ai bán mua xin quay gót, nhìn thông.

*

Mang cả tín một ngày tiên giới bằng trăm năm trần gian

Besame mucho. Bài hát ngẫu nhiên chia nhịp đập làm hai nửa

em cá lặn trong veo hồ thu

tôi lỡ rót men mùa báo đông

mùa hạ cháy

tơ trời còn lạc nẻo mùa xuân..

*

Một khoảng trời vua ban

một màu áo vua cho

một hồi vọng cơn mưa

chỉ cơn khát

độc

hành

miền

thơ.

Kỷ niệm chuyến công tác Thái Lan, từ ngày 26/6 – 05/7/2008

BÊN GIỌT ĐẮNG VÀ CƠN NGÁI NGỦ

 

Đông Hà

Viên gạch nắng nung đỏ sực

Gió cuồng giấc mơ đài tháp

*

Đông Hà

nụ cười hàm oan cơn khát

dòng sông sủi tăm men hạ

*

Đông Hà

Búp bê thập thò tủ kính

áo xống nhướt nhượt đủ màu

*

Đông Hà

nỗi nhớ quên về bậu cửa

mái gianh cổ tích trẻ con

*

Đông Hà

con đường giao mấy quãng tình

một tôi đèn đỏ đèn xanh

*

Đông Hà

anh anh anh anh anh

em em em em em.

13/6/2008

Sự trinh bạch của ngọn nến
Anh chú thích cuộc đời anh vào chỗ cuối cùng
                                               của trang giấy còn lại

bằng những con chữ trinh bạch
sự trinh bạch của ngọn nến tự hủy
                                           không đồng lõa bóng tối
Anh từng bật khóc
và từng nhìn người đời khóc nhiều về nỗi bất hạnh
nhưng vẫn yêu hơn những giọt lệ nến
bởi chúng không như sương khói chóng tàn
chúng biết đóng dấu nỗi đau lên mặt đất
Đấy là thú đau thương
                          được cấy trên cánh đồng khát vọng.

Anh chú thích cuộc đời anh bằng nỗi đam mê
không hề che giấu
không biết hóa trang
không mặc cả thiệt hơn
Thế mà chả ăn thua gì
trước sự trinh bạch của ngọn nến!

 

    

Đối ngọn đèn khuya

Bàn chân buồn vương sương ra đi
nghe thời gian chờ mong như khi
em còn trong ta thương yêu thầm thì


Thôi ta tìm về đêm xuân xa xưa
dòng sông hiền hòa sao rơi lưa thưa
con tim bồng bềnh sao tình bơ vơ


mình ta lang thang qua bao cơn mơ
chân thành mà chưa nên hình câu thơ
vòng đời hư hao ăn năn mơ hồ

ta thương bông hoa lên cành cây cao
nào hay đường trần vuông tròn ra sao
cô đơn thay cho kinh cầu xanh xao

ta không còn em ta quen màu đêm
ta ngồi bên song lòng không bình yên
ta đau hồn mình mưa rơi hồn nhiên.

 

 

 

Xem thêm

Thơ gieo trên cánh đồng hạn hán

Mấy cảm nhận khi đọc Sự trinh bạch của ngọn nến – Thơ Võ Văn Luyến,
NXB Hội Nhà văn, 2007

         

Trong tập thơ ” Sự trinh bạch của ngọn nến” tôi thích nhất 2 câu này:

Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán

Con chữ cong khô thành dấu hỏi quay về.

          Hai câu thơ mang phận người, cảnh quê và những đau đáu thường nhật của một tâm hồn nhạy cảm.

          Tôi đã từng gắn bó với Quảng Trị quê Luyến, cái vùng quê nói mấy cũng “chưa bưa” về sự khắc bạc của thiên nhiên, hủy hoại của chiến tranh, đói nghèo của con người. Thì đây, hồi ức của Luyến còn in đậm:

 

Tuổi thơ tôi 

quấn rơm rạ ruộng đồng

nắng nôi đất ải

chạy giặc càn bàn chân toác móng…

 

Đấy là vùng quê mà cátgió là nỗi ám ảnh của con người, cátgió là một phần cuộc sống rất cam go của ai từng sống ở đây:

Sống trên cát, cái nhìn thành ảo giác 

gió ngựa lồng dáng bổ về phía trước

mỗi bước chân chưa cộng đã trừ đi.

 

Những câu thơ vừa trực cảm vừa nhiều suy ngẫm, tôi nghĩ thế, đủ cho ta một hình dung sắc nét về cuộc sống vùng cát Quảng Trị. Ai đã từng sống trên cát, sống với cát càng thấy diễn đạt của Luyến thật tài tình, nhất là ý tưởng gửi gắm trong câu mỗi bước chân chưa cộng đã trừ đi. Có phải vì tôi là người vùng cát, đã từng viết Cát đi mãi chẳng thành đường / tôi đi theo lối mẹ thường hát ru nên không thể không trầm trồ khâm phục và đồng cảm khi đọc những vần thơ như vậy của Luyến. Cuộc sống thật bấp bênh chìm nổi nghiệt ngã làm sao; dấu chân người vừa mới hiện ra đã bị gió xóa đi rồi và từ hình tượng cụ thể nhỏ bé đó ta cảm nhận được cái lớn hơn là những được – mất của từng kiếp sống ở chốn này. Thường thì cái mất nhiều hơn nên đồng nghĩa với cuộc sống nơi này là sự tần tảo chắt chiu để tồn tại và vươn lên. Đầy thương cảm khi nghe Luyến tâm sự:

 

Tôi đốt từng khuya lửa tự tình nhỏ bé 

Nhìn cha lui cui thu vén ngày sau 

Mẹ ru vỗ cho tròn giấc con trẻ

Như dây trầu vấn vít thân cau.

          Chưa hết, cái vùng đất khô hạn trong mùa nắng cũng là miền ngập nước giữa mùa mưa bão.. Người dân Quảng Trị chịu đựng từ nỗi khổ này sang nỗi khổ khác, triền miên. Võ Văn Luyến xót xa:

                             Mênh mông nước ngập gầm trời

                             Ngọn đèn đỏ mắt cùng người con xa.

          Lại còn có một quê hương khắc tạc nhiều dấu vết chiến tranh, những di tích máu lửa nổi tiếng. Điều ai cũng biết là khi nói đến Quảng Trị người ta phải nhắc tới Thành Cổ, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Đường Chín. Là người thuộc thế hệ sau, Luyến gửi gắm tri ân vào những câu thơ đầy xúc cảm và giàu liên tưởng:

 

          Đêm cất vó câu thề ngực áo, cất nụ hôn ngọn lửa cời trăng, cất chiếc khăn đính vào kỷ niệm, cất mùi hương tóc xỏa trăm năm.

          Đêm muối bể thương dáng còng lưng mẹ, vết sần chai tay cha, dấu tím bầm gánh gồng vai chị và thương em vụt tắt sao băng.

          Ôi những miền đêm lặng yên dưới cỏ, những miền đêm ủ mầm hạt lúa, những miền đêm ánh thép xanh ngời.

 

          Và những miền đêm chúng tôi mở cửa đón niềm vui,

          Các anh đã hóa trời xanh mây trắng, hóa cuộc đời thêu hoa dệt gấm, hóa tình yêu sớm tối đi về…

          Lòng biết ơn với người ngã xuống có lúc được thổ lộ rất giản dị chân thật:  

 

                             30, 40, 50 năm

                             Gặp lại các anh ở nghĩa trang

                             Thơm thảo nén nhang nghĩa tình tươi rói

                             Chút mưa nắng lòng cúi xin tạ tội

                             Hương hoa bay nỗi nhớ vẫn đương rằm…

*

          Ngoài chủ đề quê hương được tô đậm, trong “Sự trinh bạch của ngọn nến” tôi thấy Luyến hay nói tới sự cô đơn. Cái cô đơn cũng như cái buồn vẫn thường xuất hiện trong thơ, không có gì mới cả. Nó như một đặc trưng tâm trạng của người làm thơ vốn đa mang, đa cảm. Nhưng sự cô đơn ở Luyến dường như rất lớn. Luyến ví von:

 

                             Tôi gánh ngọn núi cô đơn như lạc đà băng qua sa mạc.

 

          Ta chú ý tới phép so sánh trong câu thơ: chủ thể Tôi được so sánh với lạc đà; nỗi cô đơn được ví như ngọn núi và chính anh phải gánh lấy nó suốt cuộc đời như một định mệnh. Thân phận lạc đà băng qua sa mạc, có gì hơi quá đáng, nặng nề so với những gì Luyến đã có đang có nhưng ở đây có thể anh không chỉ nói riêng cho mình mà nói tới kiếp người chăng? Hay đấy là câu thơ được sinh ta trong một cảnh huống bi quan “Một năm áp thấp run chân / Tay luống cuống chữ xa dần câu thơ”. Thơ là đời, thơ là người mà. Cuộc đời, số phận đôi khi bị vận vào thơ một cách tự nhiên siêu hình như vậy.

 

          Với Luyến anh không muốn giấu sự cô đơn. Trong tập thơ của Luyến có không ít câu thơ nói về nó.

Khi là:

                             Con bướm trắng cuối vườn bay cô độc

                             Như là tôi lạc phía ca dao

          Khi thì:

                             Gió nào đâu có biết

                             Tôi đi về một tôi

 

          Cô đơn trong từng bước chân “ta đánh bóng đôi giày ẩm mốc / bước những bước thận trọng / ra khỏi nhà mình”. Cô đơn trước mênh mông trời đất ” Ngước xanh cao hư ảnh một màu trời / Gió nhện giăng quấn vào tôi tơ rối / Một vì sao sa lạc giữa chơi vơi”. Cô đơn khi bệnh tật: “Ở gần lại hóa xa quê / Trong tôi ngày tháng đi về một thân / Tôi thương tôi, sao bần thần / Nhặt từng viên cuội xây thành tình yêu!”…

 

          Thấm thía nỗi cô đơn đã cho Luyến một thái độ sống nhân bản. Nhân bản của anh cũng là nhân bản của thơ.. Anh từng thông cảm với những nỗi đau:

                             Anh từng bật khóc

                             và từng nhìn người đời

                                                         khóc nhiều về nỗi bất hạnh

                             nhưng vẫn yêu hơn những giọt lệ nến

                             bởi chúng không như sương khói chóng tàn

                             chúng biết đóng dấu nỗi đau lên mặt đất

 

          Đó là tự phán xét, là khát khao hướng tới sự trinh bạch của tâm hồn. Ngọn nến là hình tượng mang tính ẩn dụ của anh về con người, về thi ca. Cháy hết mình, không mặc cả thiệt hơn, yêu thương đau đớn thực lòng không hề che dấu, không biết hóa trang để khi lụi tàn vẫn còn những cái gì đấy, dù nhỏ bé thôi “đóng dấu” lên mặt đất này.

 

            Cái nhìn của anh với cuộc sống cũng thật bao dung ấm áp. Anh quan sát và nhận xét: “Mọi thứ trên đời có thể làm ra / và mọi thứ có thể thành rác…”. Ví như: lời nói có thể thành rác khi không còn ai nghe, son phấn có thể thành rác khi bị người ta ném ra đường…Nhưng không phải mọi thứ rác đều vô dụng. Luyến diễn đạt điều ấy giản dị làm sao:

 

                             hạnh phúc thay

                             một ngày tôi thấy

                             rác xây thành tổ ấm trên cây.

 

          Một đặc trưng cơ bản của thơ là dùng cái cụ thể, cái nhỏ bé để nói lên cái trừu tượng, cái rộng lớn. Trong trường hợp này Võ Văn Luyến đã làm được thế. Điều minh triết đôi khi lại nằm trong cách diễn đạt bình dị nhất. Từ mùa chim xây tổ anh nhìn ra bài học cuộc sống, lòng bao dung chẳng bao giờ thừa cả.

 

          Thơ Luyến đôi khi là một câu chuyện nhỏ: ” Dọc đường tôi qua / gặp những bông hoa cánh rủ / bàn tay nâng niu nhặt lên / sắc hương vẫn còn quyến rũ / Bạn tôi trách: Có mà thần kinh đi yêu tàn phai! / Dọc đuờng về / trưa nồng cỏ bạch / chợt hiện / một tàn phai bóng quen”. Tứ thơ rõ nhưng không lộ.

 

          Trong “Sự trinh bạch của ngọn nến”, Võ Văn Luyến viết nhiều thể thơ nhưng tôi thấy thế mạnh của anh là thơ tự do. Thơ lục bát của Luyến thiếu độ nhuyển và thường cũ. Những bài thơ tự do có tứ vững là những bài đọc được của Luyến. Anh có duyên với những bài thơ ngắn.

          Võ Văn Luyến làm thơ đã lâu nhưng đây mới là tập thứ hai của anh sau tập “Trầm hương của gió”. Tập “Sự trinh bạch của ngọn nến” đã được giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2007. Nó ghi dấu sự trưởng thành của một cây bút thơ Quảng Trị. Luyến làm thơ như người gieo chữ trên cánh đồng hạn hán quê anh.

 

                                                                  Nhà số 4, tháng 9 năm 2008

                                                                       NGUYỄN HỮU QUÝ

 

Phongdiep.net

 

 

 

 

MƯỜI BA BẾN NƯỚCMười ba bến nước đi qua
Có em vẫn đứng, buồn và nhìn tôi
Cớ sao em lại mỉm cười
Không dưng tôi hoá đười ươi mất rồi.

Mười ba bến nước vèo trôi
Gió mưa lũ cuốn, đắp bồi thành cao
Đục trong, trong đục thế nào
Chim bói cá đâu ngại nhào đường bay!

Mười ba bến nước mê say
Người xưa chắc cũng trắng tay đã nhiều
Em mà còn ngần ngại yêu
Thì tôi đánh chuyến bè liều… là xong.

vovanluyen

Hình ảnh: MƯỜI BA BẾN NƯỚC</p>
<p>Mười ba bến nước đi qua<br />
Có em vẫn đứng, buồn và nhìn tôi<br />
Cớ sao em lại mỉm cười<br />
Không dưng tôi hoá đười ươi mất rồi.</p>
<p>Mười ba bến nước vèo trôi<br />
Gió mưa lũ cuốn, đắp bồi thành cao<br />
Đục trong, trong đục thế nào<br />
Chim bói cá đâu ngại nhào đường bay!</p>
<p>Mười ba bến nước mê say<br />
Người xưa chắc cũng trắng tay đã nhiều<br />
Em mà còn ngần ngại yêu<br />
Thì tôi đánh chuyến bè liều... là xong.</p>
<p>vovanluyen
BẤT CHỢT MÙA XUÂN
Bất chợt bóng hồng qua ngõ
Mùa xuân đầy lên đôi vai
Con tim nao nao trỗi tiếng
Cất lên khúc nhạc không lời.Bất chợt âm i giọng sấm
Hàng cây bật dậy đâm chồi
Huyền diệu như là cổ tích
Ngỡ ngàng trái thị vàng ơi!

Bất chợt nụ yêu bờ môi
Ngày thôi còn dài chờ đợi
Đêm về tôi thôi tìm tôi
Hoài nghe bao lần câu hỏi.

Bất chợt như chưa hò hẹn
Mà sao pháo nở rậm trời
Giòng thơ tưởng chừng vơi cạn
Tự dưng xiết chảy trong người.

VÕ VĂN LUYẾN

http://xuanduc.vn/music/?nhom#BaiHat

“MÂY TRẮNG BÊN TRỜI” HOÀI VỌNG

Thơ, ở khía cạnh nào đó, là sự trở về bản ngã hồn nhiên nhất của con người. Trần Mạnh Hảo xác quyết, “thơ chính là tuổi thơ của loài người”. Người làm thơ mang con mắt trần gian thanh lọc những che khuất rối nhiễu, trả lại nguyên khôi điều ước trong veo như trời xanh mây trắng. Đấy là cái nhìn của tôi khi đọc Mây trắng bên trời của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình. Chưa vội bàn câu chữ, chỉ dừng lại ở tình cảm cảm xúc xuyên suốt trong thơ anh không thôi đã thấy lấp lánh một tinh cầu ấm áp, một tươi rói yêu thương và chia sẻ. Đã ngoài cái tuổi tri thiên mệnh, người thơ nuôi dưỡng được trạng thái chồi non lộc biếc đến nhường ấy thật đáng để bầu bạn cùng trang lứa như chúng tôi thán phục.
Tổng quan thì như thế, nhìn sâu hơn lại không hẳn. Thơ anh không thiếu những miên trường thao thức, những băn khoăn day dứt, và tất nhiên, lắm khi ta bắt gặp những chiêm nghiệm đúc ra từ cuộc sống. Dầu vậy, ta vẫn yêu hơn những câu thơ sáng trong lặng lẽ của anh. Đó mới thực sự là những tín hiệu tâm hồn nhấp nhánh nguồn sáng dịu êm đính lên khung trời hoài niệm:
Nhớ mùa xanh lá vẫy môi chào
Ôi hồn nhiên nắng ngọt chiêm bao
(Hoài niệm)
Hay:
Em về buốt tím hoa mua
Đường côi mấy nẻo gió lùa hồn anh
(Em về bên ấy)
Có thể nói, nội cảm hóa thế giới thực tại làm nên hồn vía và sức sống câu thơ. Gần gủi hơn, làm cho cuộc sống quanh ta thêm phần thi vị bởi trên dòng đời lũ cuốn làm ta tỉnh thức những nhớ quên giữa ngổn ngang sấp ngửa.
Không gian tự tình trong Mây trắng bên trời mang những ảnh hình thân thương, thân quen, thân thuộc với nghề cầm phấn, với nõn mây thấp thoáng dưới bóng phượng hồng, với cánh bướm bâng khuâng chập chờn vẫy gọi ở một nơi xa nào, với những bông hoa chớm nở vội rã rời trước nắng mưa cuộc đời dội xuống… Tất thảy được người thơ nâng niu, trân trọng trong cảm thức miên man trăn trở thường trực.
Lặng lẽ viết, lặng lẽ tự tình với những con chữ tí tách nẩy mầm yêu thương và khát vọng, Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng hiển tâm của người mang sứ mạng chở đạo. Chính thiên chức nhà giáo – thi sĩ đã giúp anh hái được những bông thơ sắc thắm bên trời. Và bạn đọc sẽ thấy nhiều vẻ đẹp khi dạo vườn thơ của anh.
Tác phẩm thơ, tự thân nó làm nên một định nghĩa; mỗi chủ thể sáng tạo, đến lượt mình, cũng có thể được xem như vậy. Người đọc có quyền đòi hỏi người thơ nhiều thứ nhưng không thể không ghi nhận một tấm lòng trải ra trên trang giấy. Đấy là cái định nghĩa lung linh sinh động bằng sự sáng tạo lại vẻ đẹp thế giới của riêng mình. Riêng điều ấy thôi, thơ của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình đủ để gầy dựng một một sẻ chia với người đọc, tôi tin như thế.
VÕ VĂN LUYẾN

* Nguyễn Văn Trình: Mây trắng bên trời (tập thơ), NXB Thuận Hóa, 2011

Hình ảnh: “MÂY TRẮNG BÊN TRỜI" HOÀI VỌNG </p>
<p>Thơ, ở khía cạnh nào đó, là sự trở về bản ngã hồn nhiên nhất của con người. Trần Mạnh Hảo xác quyết, “thơ chính là tuổi thơ của loài người”. Người làm thơ mang con mắt trần gian thanh lọc những che khuất rối nhiễu, trả lại nguyên khôi điều ước trong veo như trời xanh mây trắng. Đấy là cái nhìn của tôi khi đọc Mây trắng bên trời của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình. Chưa vội bàn câu chữ, chỉ dừng lại ở tình cảm cảm xúc xuyên suốt trong thơ anh không thôi đã thấy lấp lánh một tinh cầu ấm áp, một tươi rói yêu thương và chia sẻ. Đã ngoài cái tuổi tri thiên mệnh, người thơ nuôi dưỡng được trạng thái chồi non lộc biếc đến nhường ấy thật đáng để bầu bạn cùng trang lứa như chúng tôi thán phục.<br />
Tổng quan thì như thế, nhìn sâu hơn lại không hẳn. Thơ anh không thiếu những miên trường thao thức, những băn khoăn day dứt, và tất nhiên, lắm khi ta bắt gặp những chiêm nghiệm đúc ra từ cuộc sống. Dầu vậy, ta vẫn yêu hơn những câu thơ sáng trong lặng lẽ của anh. Đó mới thực sự là những tín hiệu tâm hồn nhấp nhánh nguồn sáng dịu êm đính lên khung trời hoài niệm:<br />
Nhớ mùa xanh lá vẫy môi chào<br />
Ôi hồn nhiên nắng ngọt chiêm bao<br />
  (Hoài niệm)<br />
Hay:<br />
Em về buốt tím hoa mua<br />
Đường côi mấy nẻo gió lùa hồn anh<br />
                (Em về bên ấy)<br />
 Có thể nói, nội cảm hóa thế giới thực tại làm nên hồn vía và sức sống câu thơ. Gần gủi hơn, làm cho cuộc sống quanh ta thêm phần thi vị bởi trên dòng đời lũ cuốn làm ta tỉnh thức những nhớ quên giữa ngổn ngang sấp ngửa.<br />
 Không gian tự tình trong Mây trắng bên trời mang những ảnh hình thân thương, thân quen, thân thuộc với nghề cầm phấn, với nõn mây thấp thoáng dưới bóng phượng hồng, với cánh bướm bâng khuâng chập chờn vẫy gọi ở một nơi xa nào, với những bông hoa chớm nở vội rã rời trước nắng mưa cuộc đời dội xuống... Tất thảy được người thơ nâng niu, trân trọng trong cảm thức miên man trăn trở thường trực.<br />
 Lặng lẽ viết, lặng lẽ tự tình với những con chữ tí tách nẩy mầm yêu thương và khát vọng, Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng hiển tâm của người mang sứ mạng chở đạo. Chính thiên chức nhà giáo – thi sĩ đã giúp anh hái được những bông thơ sắc thắm bên trời. Và bạn đọc sẽ thấy nhiều vẻ đẹp khi dạo vườn thơ của anh.<br />
Tác phẩm thơ, tự thân nó làm nên một định nghĩa; mỗi chủ thể sáng tạo, đến lượt mình, cũng có thể được xem như vậy. Người đọc có quyền đòi hỏi người thơ nhiều thứ nhưng không thể không ghi nhận một tấm lòng trải ra trên trang giấy. Đấy là cái định nghĩa lung linh sinh động bằng sự sáng tạo lại vẻ đẹp thế giới của riêng mình. Riêng điều ấy thôi, thơ của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình đủ để gầy dựng một một sẻ chia với người đọc, tôi tin như thế.<br />
                                                                               VÕ VĂN LUYẾN</p>
<p>*  Nguyễn Văn Trình: Mây trắng bên trời  (tập thơ), NXB Thuận Hóa, 2011</p>
<p>Ảnh (từ trái sang): Nhà thơ Lê Bá Tạo -Tác giả Nguyễn Văn Trình - Nhà văn Nguyễn Trọng Hòa

Ảnh (từ trái sang): Nhà thơ Lê Bá Tạo -Tác giả Nguyễn Văn Trình – Nhà văn Nguyễn Trọng Hòa

Mây thẻ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.